Home / Giáo Dục / Đề xuất cải tiến “tiếng Việt” thành “tiếq Việt”

Đề xuất cải tiến “tiếng Việt” thành “tiếq Việt”

PGS.TS Bùi Hiền, Nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội đã đề xuất cải tiến bảng chữ cái tiếng Việt như chuyển cách viết Luật giáo dục” đổi thành “Luật záo zụk”. “Tiếng Việt” thành “Tiếq Việt”, “ngôn ngữ” thành “Qôn qữ”… 

Cụ thể, trong nhiều bài viết “Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế” được in trong cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển (tập 1) do NXB Dân trí phát hành, tại Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9/2017, PGS.TS Bùi Hiền cho rằng trải qua một thời gian dài chữ quốc ngữ hiện đã bộc lộ nhiều bất hợp lý nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng.

Cụ thể, hiện tại đang sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)…hay dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…).

Ngôn ngữ,Tiếng Việt,Bảng chữ cái tiếng Việt
Ví dụ về cải tiến theo đề xuất của ông Bùi Hiền (Ảnh: Thanh Niên)

Từ đó ông Hiền đã kiến nghị phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình Nhà nước như bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái Tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.  Đồng thời thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên.

Cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng kí tự ghép n’ để biểu đạt.

Phương pháp sửa đổi này được ông Bùi Hiền cho rằng dựa trên tiếng nói văn hóa của Thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt.

Như vậy, một ví dụ đơn giản cho việc cải tiến tiếng Việt như sẽ bỏ hết những âm như th, ng, gi, qu… Bởi vì có thể cải tiến: gi=z (thay vì phải dùng hai vị phụ âm G và I) thì ngôn ngữ được cải tiến sẽ là “Luật giáo dục” đổi thành “Luật záo zụk”. “Tiếng Việt” thành “Tiếq Việt”, “ngôn ngữ” thành “Qôn qữ”…

Một ví dụ ông Bùi Hiền đưa ra được viết bằng 2 kiểu chữ hiện thời và cải tiến như sau:

LUẬT GIÁO DỤC

Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả.

Khi viết theo kiểu cải tiến sẽ thành:

LUẬT ZÁO ZỤK

Diều 7. Qôn qữ zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số; zạy qoại qữ.

1. Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák.

2. N’à nướk tạo diều kiện dể qười zân tộk wiểu số dượk họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk mìn’ n’ằm zữ zìn và fát huy bản sắk văn hoá zân tộk, zúp co họk sin’ qười zân tộk wiểu số zễ zàq tiếp wu kiến wứk xi họk tập coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Việk zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số dượk wựk hiện weo kuy dịn’ kủa Cín’ fủ.

3. Qoại qữ kuy dịn’ coq cươq cìn’ záo zụk là qôn qữ dượk sử zụq fổ biến coq zao zịk kuốk tế . Việk tổ cứk zạy qoại qữ coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák kần dảm bảo dể qười họk liên tụk và kó hiệu kuả.

“Cải tiến” hay “cải lùi”?

Đề xuất nói trên của PGS Bùi Hiền đã khiến nổ ra một cuộc tranh luận vô cùng sôi nổi trên mạng xã hội và trong giới nghiên cứu.

Một giảng viên tại TP.HCM cho rằng kiểu ngôn ngữ mà ông Hiền đề xuất đang được được dùng khá nhiều trong giới trẻ hiện nay. Vị giảng viên này bày tỏ quan điểm rằng “Không nên thay đổi hoàn toàn cái đang có, nhưng nên bổ sung thêm một kiểu viết, ghi chép cho phù hợp thực tế. Nếu không có cách tổng hợp lại, nhiều người sẽ khó mà hiểu được ngôn ngữ của giới trẻ”.

“Tôi cho rằng cũng nên đưa cách viết này vào giới thiệu ở các chương trình học. Đây là vấn đề thực sự tôi đã gặp khi tư vấn cho HSSV bằng phần mềm. Trong hệ thống nhận dạng của máy tính không có loại ký hiệu này nhưng HSSV lại sử dụng rất nhiều. Việc có thêm cách ghi chép như thế giúp khá nhiều cho các sản phẩm trí tuệ nhân tạo khi cần nhận dạng chữ viết của giới trẻ. Điều này không thể gọi là cải tiến, mà nên gọi là bổ sung cho hệ thống ngôn ngữ để phù hợp với thực tế” – giảng viên này đề xuất.

Tuy nhiên, đó là một trong không nhiều ý kiến ủng hộ đề xuất của PGS Bùi Hiền.

Ngôn ngữ,Tiếng Việt,Bảng chữ cái tiếng Việt

Ở chiều ngược lại, PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt, Khoa Ngôn ngữ học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội cho rằng đề xuất này không phải “cải tiến” mà là “cải lùi”. Bởi vì nếu cải tiến như vậy thì tiếng Việt không còn có vẻ đẹp như nó vốn có.

“Chữ quốc ngữ được sáng tạo trên cơ sở lấy hệ chữ cái La tinh để ghi âm tiếng Việt. Trong đó, các bậc tiền bối đã tính toán khá kỹ đến cả đường nét (giá trị thẩm mỹ) của ký tự lẫn giá trị biểu nghĩa (giá trị phân biệt ý nghĩa) của từng con chữ.

Chính vì thế, có trường hợp người ta đã dùng đến 3 chữ cái để cùng ghi âm 1 âm vị (chẳng hạn dùng: g, r, d để ghi âm [z]). Có sự khác biệt ấy là vì người ta đã tính đến giá trị khu biệt của âm vị này khi nó kết hợp với các nguyên âm khác nhau đứng sau nó: Kết hợp với nguyên âm dòng trước, với nguyên âm dòng sau, nguyên âm có độ mở rộng, nguyên âm có độ mở hẹp… Chính sự khác nhau này đã tạo nên nét tinh tế và sự phong phú của tiếng Việt” – PGS Đạt cho biết.

Theo ông Đạt, nếu cải tiến như PGS Bùi Hiền đề nghị thì chẳng những làm đơn giản hóa tư duy của người Việt mà còn “làm cho chữ viết của ta xấu đi và trở nên vô hồn”. Mặt khác, thực hiện cải tiến như vậy sẽ làm đảo lộn và làm phức tạp hóa thêm vấn đề, chứ không hề tạo ra tiện lợi hơn trong việc sử dụng. Đó là chưa kể, làm như vậy, chúng ta sẽ tạo ra một kiểu chữ La tinh theo bản sao, rất xa lạ với tư duy truyền thống của người Việt.

“Nói tóm lại, nếu áp dụng phương pháp cải tiến kiểu này cho hệ thống giáo dục hiện nay sẽ gây ra nhiều tác hại hơn là đem lại lợi ích cho dân tộc. Đây là một giả thuyết thiếu tính thực tiễn. Nó cũng sẽ gặp thất bại như việc muốn đưa Quốc tế ngữ làm ngôn ngữ chung thay cho các ngôn ngữ cụ thể đã và đang tồn tại trên trái đất của chúng ta” – ông Đạt nhận xét.

Ở góc độ khác, TS Đinh Lư Giang, Phó Trưởng bộ môn Ngôn ngữ học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG TP.HCM, cho rằng các nhà nghiên cứu nên đón nhận quan điểm của PGS Bùi Hiền trong việc cải tiến chữ viết như một sự đóng góp của ông trong nghiên cứu.

Theo ông Giang, trong nghiên cứu khoa học sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về cách nhìn nhận và có thể cách nhìn nhận của PGS Hiền khác với cách nhìn nhận của mọi người. Tuy nhiên về mặt khoa học đề xuất này của PGS Hiền là không có tính thực tiễn.

“Chữ viết là kết quả của sự run rủi trong lịch sử dùng để ghi lại âm thanh và ký hiệu và mang tính chất quy ước. Về mặt khoa học, tôi không coi đề xuất này của PGS Hiền là khả quan” – ông Giang bày tỏ.

Ông Giang cho rằng nghiên cứu của PGS Hiền là đáng ghi nhận nhưng không thật sự cần thiết, vì hệ thống chữ viết đó về mặt ngữ âm không tối ưu. “PGS Hiền đề xuất âm Tiếng Việt = Tiếq Việt có nghĩa âm ng = q, nhưng trong hệ ngôn ngữ La tinh chữ q không thay thế cho chữ ng, cũng như z không thể thay thế g hay d… Điều này giống như không thể bắt xã hội phải quy ước lại đèn đỏ thì đi mà đèn xanh thì dừng”.

GS Nguyễn Đức Dân thì thẳng thắn khẳng định giới ngôn ngữ học sẽ không chấp nhận đề nghị của PGS Bùi Hiền vì “điều này vì rất kì cục”. Theo ông Dân, không nhất thiết phải đưa kiến nghị này ra để thảo luận.

Theo Vietnamnet